TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LÝ 24/7

Quy trình xử lý vụ án hình sự từ khởi tố đến xét xử từ 1/7/2025

Quy trình giải quyết vụ án hình sự là gì?

Quy trình giải quyết vụ án hình sự được hiểu là trình tự, thủ tục, cách thức các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và các cơ quan khác của Nhà nước tiến hành xem xét, đánh giá một hành vi có phải là vi phạm pháp luật được quy định trong Bộ luật hình sự hay không, cũng như xem xét người thực hiện hành vi vi phạm đó có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không.

Mục tiêu của quy trình này là làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên liên quan. Quy trình giải quyết vụ án hình sự sẽ trải qua các giai đoạn bao gồm: khởi tố vụ án hình sự, điều tra, truy tố, xét xử. 

Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự 

Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu của quá trình giải quyết vụ án hình sự, trong đó cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự. 

Căn cứ theo quy định tại Điều 143 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015sửa đổi bổ sung năm 2025, việc khởi tố vụ án chỉ được tiến hành khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ từ nguồn tin về tội phạm bao gồm: 

  • Tố giác của cá nhân

  • Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân

  • Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng

  • Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước

  • Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm

  • Người phạm tội tự thú

Theo quy định tại Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm là: cơ quan điều tra, viện kiểm sát các cấp và cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

Căn cứ quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, thời hạn giải quyết nguồn tin về tội phạm là 20 ngày kể từ ngày tiếp nhận. Tuy nhiên, đối với các vụ việc có tình tiết phức, cần xác minh tại nhiều địa điểm khác nhau thì thời gian có thể kéo dài hơn nhưng không được quá 02 tháng. Trường hợp cần thiết, vụ việc có thể được gia hạn một lần không quá 02 tháng.
 

Sau khi kết thúc việc giải quyết nguồn tin về tội phạm, cơ quan có thẩm quyền phải ra một trong các quyết định: khởi tố vụ án hình sự, không khởi tố vụ án, tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. 

Về thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự, căn cứ theo Điều 153 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự được quy định như sau: 

(i) Cơ quan điều tra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với tất cả vụ việc có dấu hiệu tội phạm, trừ những vụ việc do cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử đang thụ lý, giải quyết quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều này.

(ii) Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp quy định tại Điều 164 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.

(iii) Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp:

  • Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra

  • Viện kiểm sát trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

  • Viện kiểm sát trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm hoặc theo yêu cầu khởi tố của Hội đồng xét xử

(iv) Hội đồng xét xử yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm.

Giai đoạn điều tra vụ án hình sự 

Điều tra là một giai đoạn trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, trong đó các cơ quan có thẩm quyền tiến hành các biện pháp thu thập thông tin, chứng cứ, để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội làm cơ sở cho việc truy tố của VKS và hoạt động xét xử của Tòa án.
Giai đoạn này bắt đầu từ khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và kết thúc bằng bản kết luận điều tra và đề nghị Viện kiểm sát truy tố hoặc ra bản kết luận điều tra và quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ điều tra.

Thẩm quyền điều tra

Căn cứ quy định tại Điều 172 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, thẩm quyền điều tra vụ án hình sự được quy định như sau: 

(i) Cơ quan điều tra của Công an nhân dân điều tra tất cả các tội phạm, trừ những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân và Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

(ii) Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân điều tra các tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự.

(iii) Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương điều tra tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, tội phạm về tham nhũng, chức vụ quy định tại Chương XXIII và Chương XXIV của Bộ luật hình sự xảy ra trong hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ, công chức thuộc Cơ quan điều tra, Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án, người có thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp.

(iv) Cơ quan điều tra có thẩm quyền điều tra những vụ án hình sự mà tội phạm xảy ra trên địa phận của mình. Trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được địa điểm xảy ra tội phạm thì việc điều tra thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra nơi phát hiện tội phạm, nơi bị can cư trú hoặc bị bắt.

(v) Việc phân cấp thẩm quyền điều tra như sau:

  • Cơ quan điều tra cấp tỉnh điều tra vụ án hình sự về những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực

  • Cơ quan điều tra quân sự khu vực điều tra vụ án hình sự về những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự khu vực; Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu điều tra vụ án hình sự về những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự cấp quân khu hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra cấp khu vực nếu xét thấy cần trực tiếp điều tra.

  • Cơ quan điều tra Bộ Công an, Cơ quan điều tra Bộ Quốc phòng điều tra vụ án hình sự về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy để điều tra lại; vụ án hình sự về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp liên quan đến nhiều tỉnh, thành phố, vụ án hình sự về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp liên quan đến nhiều quốc gia nếu xét thấy cần trực tiếp điều tra.

      Ngoài ra, kể từ ngày 01/07/2025, theo Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, điều tra viên trung cấp, điều tra viên cao cấp là Trưởng Công an cấp xã hoặc Phó Trưởng Công an cấp xã được Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh phân công tiến hành hoạt động khởi tố, điều tra vụ án về tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn cấp xã. Cụ thể, Trưởng Công an cấp xã hoặc Phó Trưởng Công an cấp xã được trực tiếp tổ chức và chỉ đạo việc thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm, việc khởi tố, điều tra của Cơ quan điều tra; quyết định phân công hoặc thay đổi điều tra viên, cán bộ điều tra; kiểm tra các hoạt động thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự của điều tra viên, cán bộ điều tra; quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của điều tra viên.

Thời hạn điều tra

Theo Điều 172 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 thời hạn điều tra không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng và không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Trường hợp cần thiết, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị và Viện Kiểm sát ra Quyết định gia hạn thời hạn điều tra vụ án hình sự theo quy định.

Theo Điều 173 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 thời hạn tạm giam bị can để điều tra không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Trường hợp cần thiết, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị và Viện Kiểm sát ra Quyết định gia hạn thời hạn điều tra vụ án hình sự theo quy định.

Các hoạt động điều tra vụ án hình sự

(1) Khởi tố bị can và hỏi cung bị can: 

Căn cứ quy định tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, khi có đủ căn cứ để xác định một người hoặc pháp nhân đã thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm thì Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can.

Sau đó, tiến hành hỏi cung bị can nhằm thu thập chứng cứ từ lời khai của bị can. Theo Điều 183 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, việc hỏi cung bị can do Điều tra viên tiến hành ngay sau khi có quyết định khởi tố bị can. Có thể hỏi cung bị can tại nơi tiến hành điều tra hoặc tại nơi ở của người đó. Trước khi hỏi cung bị can, Điều tra viên phải thông báo cho Kiểm sát viên và người bào chữa thời gian, địa điểm hỏi cung. Khi xét thấy cần thiết, Kiểm sát viên tham gia việc hỏi cung bị can.

*** Lưu ý: 

Không hỏi cung bị can vào ban đêm, trừ trường hợp không thể trì hoãn được nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.

Việc hỏi cung bị can tại cơ sở giam giữ hoặc tại trụ sở Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh.

Việc hỏi cung bị can tại địa điểm khác được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh theo yêu cầu của bị can hoặc của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

(2) Lấy lời khai người làm chứng, bị hại, đương sự

Căn cứ quy định tại Điều 186, 187 và 188 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, lấy lời khai người làm chứng, bị hại, đương sự là hoạt động điều tra nhằm thu thập những chứng cứ do người làm chứng, bị hại, đương sự đưa ra để giải quyết vụ án hình sự. 

Việc lấy lời khai của người làm chứng, bị hại, đương sựcó thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh.

(3) Đối chất 

Theo quy định tại Điều 189 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, trong trường hợp có mâu thuẫn trong lời khai giữa hai người hay nhiều người mà đã tiến hành các biện pháp điều tra khác nhưng chưa giải quyết được mâu thuẫn thì Điều tra viên tiến hành đối chất để xác định sự thật của vụ án. Việc đối chất có thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh.

Trong quá trình đối chất, Điều tra viên có thể đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật có liên quan; có thể để cho những người tham gia đối chất hỏi lẫn nhau; câu hỏi và trả lời của những người này phải ghi vào biên bản.

(4) Nhận dạng 

Theo quy định tại Điều 190 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, khi cần thiết, Điều tra viên có thể đưa người, ảnh hoặc vật cho người làm chứng, bị hại hoặc bị can nhận dạng. Số người, ảnh hoặc vật đưa ra để nhận dạng ít nhất phải là ba và bề ngoài phải tương tự nhau, trừ trường hợp nhận dạng tử thi. Việc nhận dạng phải có sự tham gia của người làm chứng, bị hại hoặc bị can và người chứng kiến.

Điều tra viên phải hỏi trước người nhận dạng về những tình tiết, vết tích và đặc điểm mà nhờ đó họ có thể nhận dạng được. Trong quá trình tiến hành nhận dạng, Điều tra viên không được đặt câu hỏi gợi ý. Sau khi người nhận dạng đã xác nhận một người, một vật hay một ảnh trong số được đưa ra để nhận dạng thì Điều tra viên yêu cầu họ giải thích là họ đã căn cứ vào các vết tích hoặc đặc điểm gì mà xác nhận được người, vật hay ảnh đó.

(5) Nhận biết giọng nói 

Theo quy định tại Điều 191 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, khi cần thiết, Điều tra viên có thể cho bị hại, người làm chứng hoặc người bị bắt, bị tạm giữ, bị can nhận biết giọng nói. Số giọng nói được đưa ra để nhận biết ít nhất phải là ba và phải có âm sắc, âm lượng tương tự nhau. Việc nhận biết giọng nói phải có sự tham gia của Giám định viên về âm thanh; Người được yêu cầu nhận biết giọng nói; Người được đưa ra để nhận biết giọng nói, trừ trường hợp việc nhận biết giọng nói được thực hiện qua phương tiện ghi âm; Người chứng kiến.

Điều tra viên phải hỏi trước người được yêu cầu nhận biết giọng nói về những đặc điểm mà nhờ đó họ có thể nhận biết được giọng nói. Trong quá trình tiến hành nhận biết giọng nói, Điều tra viên không được đặt câu hỏi gợi ý. Sau khi người được yêu cầu nhận biết giọng nói đã xác nhận được tiếng nói trong số giọng nói được đưa ra thì Điều tra viên yêu cầu họ giải thích là họ đã căn cứ vào đặc điểm gì mà xác nhận giọng nói đó.

(6) Khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện, tài liệu, đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử

Căn cứ theo Điều 192 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025: 

Việc khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện chỉ được tiến hành khi có căn cứ để nhận định trong người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện có công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật, dữ liệu điện tử, tài liệu khác có liên quan đến vụ án.

Việc khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện cũng được tiến hành khi cần phát hiện người đang bị truy nã, truy tìm và giải cứu nạn nhân.

Khi có căn cứ để nhận định trong thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử có công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản liên quan đến vụ án thì có thể khám xét thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử.

*** Lưu ý: 

  • Việc khám xét người phải do người cùng giới thực hiện và có người khác cùng giới chứng kiến. Việc khám xét không được xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người bị khám xét.

  • Khi khám xét chỗ ở thì phải có mặt người đó hoặc người từ đủ 18 tuổi trở lên cùng chỗ ở, có đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã và người chứng kiến; trường hợp người đó, người từ đủ 18 tuổi trở lên cùng chỗ ở cố tình vắng mặt, bỏ trốn hoặc vì lý do khác họ không có mặt mà việc khám xét không thể trì hoãn thì việc khám xét vẫn được tiến hành nhưng phải có đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi khám xét và hai người chứng kiến. Không được bắt đầu việc khám xét chỗ ở vào ban đêm, trừ trường hợp khẩn cấp nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.

  • Khi khám xét nơi làm việc của một người thì phải có mặt người đó, trừ trường hợp không thể trì hoãn nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản. Việc khám xét nơi làm việc phải có đại diện của cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc chứng kiến. Trong trường hợp không có đại diện cơ quan, tổ chức thì việc khám xét vẫn được tiến hành nhưng phải có đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi khám xét và 02 người chứng kiến.

  • Khi khám xét địa điểm phải có đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi khám xét và người chứng kiến.

  • Việc khám xét phương tiện phải có mặt chủ sở hữu hoặc người quản lý phương tiện và người chứng kiến. Trường hợp chủ sở hữu hoặc người quản lý phương tiện vắng mặt, bỏ trốn hoặc vì lý do khác họ không có mặt mà việc khám xét không thể trì hoãn thì việc khám xét vẫn được tiến hành nhưng phải có hai người chứng kiến. Khi khám xét phương tiện có thể mời người có chuyên môn liên quan đến phương tiện tham gia.

(7) Thu giữ phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm tại cơ quan, tổ chức bưu chính, viễn thông

Căn cứ theo Điều 196 và 197 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025: 

Việc thu giữ phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử do người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện và có thể mời người có chuyên môn liên quan tham gia. Trường hợp không thể thu giữ được thì phải sao lưu vào phương tiện lưu trữ và thu giữ như đối với vật chứng.

Khi thu giữ các phương tiện điện tử có thể thu thiết bị ngoại vi kèm theo và các tài liệu có liên quan.

Khi cần thiết phải thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm tại cơ quan, tổ chức bưu chính, viễn thông thì Cơ quan điều tra ra lệnh thu giữ.

(8) Tạm giữ tài liệu, đồ vật khi khám xét

Căn cứ theo Điều 198 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, khi khám xét, Điều tra viên được tạm giữ đồ vật là vật chứng và tài liệu có liên quan trực tiếp đến vụ án. Đối với đồ vật thuộc loại cấm tàng trữ, lưu hành thì phải thu giữ và chuyển ngay cho cơ quan quản lý có thẩm quyền. Trường hợp cần thiết phải niêm phong thì tiến hành trước mặt chủ sở hữu đồ vật, người quản lý đồ vật, người chứng kiến, đại diện gia đình, đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi khám xét.

(9) Khám nghiệm hiện trường

Căn cứ theo Điều 201 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, khám nghiệm hiện trường là hoạt động điều tra do Điều tra viên chủ trì tiến hành nhằm khám nghiệm nơi xảy ra, nơi phát hiện tội phạm để phát hiện dấu vết của tội phạm, thu giữ vật chứng, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử khác liên quan và làm sáng tỏ những tình tiết có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án.

(10) Khám nghiệm tử thi 

Căn cứ theo Điều 202 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, khám nghiệm tử thi là hoạt động điều tra nhằm phát hiện dấu vết của tội phạm và dấu vết khác trên tử thi.

Khi khám nghiệm tử thi phải tiến hành chụp ảnh, mô tả dấu vết để lại trên tử thi; chụp ảnh, thu thập, bảo quản mẫu vật phục vụ công tác trưng cầu giám định; ghi rõ kết quả khám nghiệm vào biên bản.

(11) Xem xét dấu vết trên thân thể

Theo Điều 203 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, khi cần thiết, Điều tra viên tiến hành xem xét dấu vết của tội phạm hoặc các dấu vết khác có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án trên thân thể người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị hại, người làm chứng. Trong trường hợp cần thiết thì Cơ quan điều tra trưng cầu giám định.

Việc xem xét dấu vết trên thân thể phải do người cùng giới tiến hành và phải có người cùng giới chứng kiến. Trường hợp cần thiết thì có thể mời bác sĩ tham gia.

(12) Thực nghiệm điều tra

Theo Điều 204 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, để kiểm tra, xác minh tài liệu, tình tiết có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án, Cơ quan điều tra có thể thực nghiệm điều tra bằng cách dựng lại hiện trường, diễn lại hành vi, tình huống hoặc những tình tiết khác của một sự việc nhất định và tiến hành các hoạt động thực nghiệm cần thiết. Khi thực nghiệm điều tra phải đo đạc, chụp ảnh, ghi hình, vẽ sơ đồ, ghi rõ kết quả thực nghiệm điều tra vào biên bản.

(13) Trưng cầu giám định 

Theo Điều 205 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, việc trưng cầu giám định được thực hiện khi cần xác định các trường hợp sau đây: 

  • Tình trạng tâm thần của người bị buộc tội khi có sự nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự của họ; tình trạng tâm thần của người làm chứng hoặc bị hại khi có sự nghi ngờ về khả năng nhận thức, khả năng khai báo đúng đắn về những tình tiết của vụ án

  • Tuổi của bị can, bị cáo, bị hại nếu việc đó có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án và không có tài liệu để xác định chính xác tuổi của họ hoặc có nghi ngờ về tính xác thực của những tài liệu đó

  • Nguyên nhân chết người

  • Tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khoẻ hoặc khả năng lao động

  • Chất ma tuý, vũ khí quân dụng, vật liệu nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, tiền giả, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ

  • Mức độ ô nhiễm môi trường

  • Những trường hợp khác khi xét thấy cần thiết 

(14) Định giá tài sản 

Theo Điều 215 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, khi cần xác định giá của tài sản để giải quyết vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra văn bản yêu cầu định giá tài sản.

(15) Các biện pháp điều tra đặc biệt 

Căn cứ theo Điều 223 và 224 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, có thể áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt đối với các trường hợp:

  • Tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm về ma túy, tội phạm về tham nhũng, tội khủng bố, tội rửa tiền

  • Tội phạm khác có tổ chức thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

Các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt bao gồm: 

  • Ghi âm, ghi hình bí mật

  • Nghe điện thoại bí mật

  • Thu thập bí mật dữ liệu điện tử

Giai đoạn truy tố 

Sau giai đoạn điều tra, cơ quan điều tra làm bản kết luận điều tra và đề nghị truy tố gửi cùng hồ sơ vụ án đến Viện Kiểm sát. Truy tố là chức năng quan trọng của Viện kiểm sát nhằm kiểm tra, đánh giá toàn bộ nội dung, xác định sự thật khách quan của vụ án, đảm bảo xử lý đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội trên cơ sở hồ sơ và tài liệu chứng cứ kèm theo do Cơ quan điều tra chuyển đến.

Về thẩm quyền truy tố, căn cứ quy định tại Điều 239 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, Thẩm quyền truy tố được quy định như sau: 

  • Viện kiểm sát có thẩm quyền quyết định việc truy tố là Viện kiểm sát đã thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra. Thẩm quyền truy tố của Viện kiểm sát được xác định theo thẩm quyền xét xử của Tòa án đối với vụ án.

  • Trường hợp vụ án không thuộc thẩm quyền truy tố của mình, Viện kiểm sát ra ngay quyết định chuyển vụ án cho Viện kiểm sát có thẩm quyền. Việc chuyển vụ án cho Viện kiểm sát ngoài phạm vi tỉnh, thành phố hoặc ngoài phạm vi quân khu do Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu quyết định.

  • Đối với vụ án do Viện kiểm sát cấp trên thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra thì Viện kiểm sát cấp trên quyết định việc truy tố. Chậm nhất là 02 tháng trước khi kết thúc điều tra, Viện kiểm sát cấp trên phải thông báo cho Viện kiểm sát cấp dưới cùng cấp với Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án để cử Kiểm sát viên tham gia nghiên cứu hồ sơ vụ án. Ngay sau khi quyết định truy tố, Viện kiểm sát cấp trên ra quyết định phân công cho Viện kiểm sát cấp dưới thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử; sau khi nhận được hồ sơ vụ án kèm theo bản cáo trạng, Viện kiểm sát cấp dưới có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử theo đúng quy định. 

Viện kiểm sát có thẩm quyền sau đó tiến hành các hoạt động tố tụng cần thiết nhằm buộc tội bị can trước Tòa án có thẩm quyền.

Kết thúc, Viện Kiểm sát ra các quyết định: Truy tố bị can trước Tòa, trả hồ sơ để điều tra bổ sung, đình chỉ hay tạm đình chỉ vụ án hình sự.

Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 

Khi nhận được quyết định truy tố bị can cùng hồ sơ do Viện kiểm sát chuyển đến, Tòa án có thẩm quyền xem xét và quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm. Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một giai đoạn của quá trình TTHS, là cấp xét xử thứ nhất. Trong đó Tòa án có thẩm quyền tiến hành xem xét, giải quyết vụ án, ra bản án, quyết định tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, căn cứ theo quy định tại Điều 268 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, thẩm quyền xét xử sơ thẩm được quy định như sau: 

(i) Tòa án nhân dân khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật Hình sự quy định đến 20 năm tù.

(ii) Tòa án nhân dân cấp tỉnh xét xử sơ thẩm những vụ án:

  • Vụ án hình sự về các tội phạm không thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực

  • Vụ án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân khu vực nhưng có nhiều tình tiết phức tạp, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, dư luận xã hội đặc biệt quan tâm; vụ án mà khi xử lý có ảnh hưởng đến chính trị, đối ngoại; vụ án mà người phạm tội là cán bộ lãnh đạo chủ chốt từ cấp tỉnh trở lên, người có chức sắc trong tôn giáo hoặc có uy tín cao trong dân tộc thiểu số. 

(iii) Tòa án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ tội phạm, vụ án:

  • Các tội xâm phạm an ninh quốc gia

  • Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh

  • Các tội quy định tại các điều 123, 125, 126, 227, 277, 278, 279, 280, 282, 283, 284, 286, 287, 288, 337, 368, 369, 370, 371, 399 và 400 của Bộ luật Hình sự

  • Các tội phạm được thực hiện ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

  • Vụ án hình sự có bị cáo, bị hại, đương sự ở nước ngoài hoặc tài sản có liên quan đến vụ án ở nước ngoài

(iv) Tòa án quân sự cấp quân khu xét xử sơ thẩm những vụ án

  • Vụ án hình sự về các tội phạm không thuộc thẩm quyền của Tòa án quân sự khu vực

  • Vụ án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự khu vực nhưng có nhiều tình tiết phức tạp khó đánh giá, thống nhất về tính chất vụ án hoặc liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành; vụ án mà bị cáo là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, cán bộ lãnh đạo chủ chốt từ cấp tỉnh, Trung đoàn trưởng và tương đương trở lên, người có chức sắc trong tôn giáo hoặc có uy tín cao trong dân tộc thiểu số.

(v) Thẩm quyền theo lãnh thổ

Căn cứ quy định tại Điều 269 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự là Tòa án nơi tội phạm được thực hiện. Trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được nơi thực hiện tội phạm thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa án nơi kết thúc việc điều tra.

Bị cáo phạm tội ở nước ngoài nếu xét xử ở Việt Nam thì Tòa án nhân dân nơi cư trú cuối cùng của bị cáo ở trong nước xét xử theo thẩm quyền. Nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng ở trong nước của bị cáo thì tùy từng trường hợp, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định giao cho một Tòa án nhân dân khu vực thuộc Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, thành phố Đà Nẵng hoặc Thành phố Hồ Chí Minh hoặc giao cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, thành phố Đà Nẵng hoặc Thành phố Hồ Chí Minh xét xử.

Bị cáo phạm tội ở nước ngoài nếu thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự thì Tòa án quân sự cấp quân khu xét xử theo quyết định của Chánh án Tòa án quân sự trung ương.

Quá trình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được thực hiện theo nguyên tắc xét xử trực tiếp bằng lời nói và liên tục, chỉ xét xử những bị cáo, những hành vi theo tội danh mà viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã có quyết định đưa ra xét xử. Trình tự xét xử tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự bao gồm: Chuẩn bị và khai mạc phiên tòa, xét hỏi, tranh luận, nghị án và tuyên án.

Xét xử phúc thẩm vụ án hình sự 

Trong trường hợp bản án sơ thẩm có kháng cáo hoặc kháng nghị, vụ án hình sự sẽ được đưa ra xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm. Căn cứ theo quy định tại Điều 330 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị. 

Về thẩm quyền xét xử phúc thẩm vụ án hình sự, theo quy định tại Điều 344 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, Tòa án có thẩm quyền xét xử phúc thẩm được quy định như sau: 

  • Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án nhân dân khu vực bị kháng cáo, kháng nghị

  • Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh bị kháng cáo, kháng nghị

  • Tòa án quân sự cấp quân khu có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án quân sự khu vực bị kháng cáo, kháng nghị

  • Tòa án quân sự trung ương có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án quân sự cấp quân khu bị kháng cáo, kháng nghị

Phiên tòa phúc thẩm vụ án hình sự cũng được diễn ra với trình tự tương tự phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự bao gồm: Chuẩn bị và khai mạc phiên tòa, xét hỏi, tranh luận, nghị án và tuyên án. Tuy nhiên, có một điểm khác biệt quan trọng: phiên tòa phúc thẩm không xét xử lại toàn bộ vụ án mà chỉ tập trung vào những phần nội dung bị kháng cáo hoặc kháng nghị. Nếu xét thấy cần thiết, có thể xem xét các phần khác của bản án, quyết định không bị kháng cáo, kháng nghị. Trong phần xét hỏi và tranh luận, Hội đồng xét xử sẽ đi sâu vào việc làm rõ các lý do kháng cáo, kháng nghị, cũng như xem xét các chứng cứ mới (nếu có) để đưa ra phán quyết cuối cùng, bảo đảm bản án được thực thi một cách công bằng và chính xác.

Mục đích của việc xét xử phúc thẩm vụ án hình sự là nhằm kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm. Phát hiện và sửa chữa những sai lầm trong việc xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm, đảm bảo việc áp dụng pháp luật được thống nhất và đúng đắn.

Thi hành án 

Giai đoạn thi hành bản án và quyết định của Tòa án được thực hiện sau xét xử, khi bản án của tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Công việc này do Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm hoặc Chánh án Tòa án khác cùng cấp ra quyết định.

Việc thực hiện sẽ giao cho cơ quan thi hành án hình sự thực hiện nhằm bảo đảm cho bản án và quyết định có hiệu lực của Tòa án được thi hành một cách chính xác, kịp thời.

Căn cứ theo quy định tại Điều 364 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm có thẩm quyền ra quyết định thi hành án hoặc ủy thác cho Chánh án Tòa án khác cùng cấp ra quyết định thi hành án trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày nhận được bản án, quyết định phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm, quyết định tái thẩm theo quy định tại 

Chỉ có những bản án và quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mới được đưa ra thi hành, trừ trường hợp bản án tuyên một người là không phạm tội hoặc tuyên một hình phạt bằng hoặc thấp hơn thời hạn họ bị tạm giam. Việc thi hành các loại hình phạt phải tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.

Để bảo đảm tính khách quan trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, trường hợp các bản án và quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện ra sai lầm về pháp luật và phát hiện ra tình tiết mới thì được xét xử lại theo trình tự giám đốc thẩm quy định tại Điều 370 và tái thẩm quy định tại Điều 397 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. 

Trên đây là toàn bộ nội dung liên quan đến Quy trình giải quyết vụ án hình sự từ khởi tố đến xét xử năm 2025. Nếu quý khách cần tư vấn hoặc cần tìm luật sư bào chữa tham gia tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm vụ án hình sự, hãy liên hệ ngay với Luật Thiên Ưng – Hotline 0879766697 để được hỗ trợ nhanh nhất.

 

Bài viết liên quan

Top Luật sư theo yêu cầu